Y, Bát của đức Phật

Typography
  • Smaller Small Medium Big Bigger
  • Default Helvetica Segoe Georgia Times

Kể từ sau ngày đức Phật nhập diệt, để tưởng nhớ và cúng dường Ngài, các hàng đệ tử của Ngài thường lễ bái, cầu nguyện và dâng cúng các phẩm vật tại các thánh tích cùng những bảo tháp thờ xá-lợi của Ngài. Xá-lợi Phật chính là những di vật thiêng liêng tượng trưng cho sự hiện hữu của Ngài tại nhân gian, là nguồn lực gia trì cho sự tu tập của người Phật tử, và là thông điệp về sự vô thường của các pháp hữu vi, dù đó là thân xác của một đấng giác ngộ. Thông thường xá-lợi của đức Phật gồm có ba loại: thân xá-lợi (di cốt còn lại sau lễ trà tỳ kim thân của đức Phật như: xương, răng, tóc…), tùy thân xá-lợi (những vật dụng mà đức Phật thường dùng khi còn tại thế như y, bát, tích trượng, tọa cụ…), và pháp xá-lợi tức là những kinh điển hay pháp và luật mà Ngài đã truyền dạy. Trong Phật giáo, y và bát của đức Phật được tôn trọng, kính ngưỡng vì chúng không chỉ được xem là những phần xá-lợi gắn liền với cuộc đời đức Phật Thích-ca mà còn là những vật truyền thừa của chư Phật trong nhiều đời.

  

Theo các bản sớ giải của bộ Phật Sử và kinh Bổn Sanh, sau khi vượt thành xuất gia, thái tử Sĩ-đạt-đa nghĩ rằng bộ y phục sang trọng may bằng lụa xứ Ba-la-nại mà mình đang mặc chẳng hợp với những ai đang vân du khắp nơi để tầm cầu chân lý và vì thế thái tử đã đổi nó để nhận một bộ y phục nhạt màu từ một người thợ săn vốn là hoá thân của một Phạm thiên1. Bộ y phục này được xem là khởi đầu cho truyền thống mặc y phấn tảo (pāṃśukūla) hay y bá nạp (loại y được may từ những mảnh vải rách lượm từ đống rác hay nghĩa địa được giặt sạch) trong Tăng đoàn. Đại trí độ luận giải thích rằng, trong xã hội Ấn thời xưa hàng bạch y vì tham cầu dục lạc nên thích mặc nhiều y phục, lại có những nhà ngoại đạo tu khổ hạnh nên sống lõa thể, hàng đệ tử của đức Phật theo gương của Ngài xa lánh hai cực đoan này, sống đời thiểu dục, tri túc, mặc y phục đủ để che thân2. Đối với đức Phật và hàng đệ tử xuất gia của Ngài, ngoài ý nghĩa liên hệ đến các yếu tố xã hội, việc thọ trì y phục còn là việc noi theo truyền thống của chư Phật trong nhiều đời.  

Luật tạng Nhất thiết hữu bộ có ghi lại rằng, vào thời quá khứ tại Ca-tỳ-la-vệ có mười anh em cùng xuất gia, tu tập và chứng quả Bích-chi-phật. Trước khi nhập diệt, các vị Bích-chi này đã trao lại những tấm y bá nạp của mình cho mẹ và cùng thưa rằng vào đời đương lai có đức Thích-ca Mâu-ni, con của vua Tịnh Phạn chứng quả giác ngộ vô thượng, nếu đem những y phục này dâng cho Ngài thì sẽ được phước báu vô lượng. Người mẹ theo ý nguyện của các vị Bích-chi nên giữ gìn cẩn thận những bộ y đó. Trước khi qua đời, bà trao chúng lại cho người con gái của mình để giữ gìn. Đến khi cô gái bắt đầu già yếu, cô bèn đem những tấm y đó treo trên cây và cầu vị thần cây bảo hộ để sau này trao lại cho người con của vua Tịnh Phạn. Lúc ấy Đế Thích liền giữ gìn y này và đợi đến khi thái tử xuất gia, liền hóa thành một người thợ săn đến đổi y phục cho thái tử. Khi trở về cõi Trời ba mươi ba, Đế Thích bèn xây tháp phụng thờ bộ y phục của thái tử và tháp này có tên là Xuất gia y tháp3.

Tấm y mà thái tử đã đổi cho người thợ săn chính là y phục mà thái tử đã mặc trong suốt thời gian tu khổ hạnh. Theo kinh Phổ Diệu, trải qua thời gian sáu năm khổ hạnh, tấm y này của thái tử bị rách và ngài đã đến nghĩa địa nhặt những mảnh vải cũ vốn được dùng để bọc tử thi của một tỳ nữ. Cô gái này đã chết trong ngôi nhà gần nơi trú ngụ của vị trưởng làng. Thái tử đã giặt sạch những mảnh vải này và sau đó khâu thành một bộ y phục mới cho mình tại một gốc cây mà nơi này về sau có tên là Pāṃśukūlasīvana (nơi khâu y phấn tảo)4.

Trong thời gian du hóa sau ngày thành đạo, đức Phật đã được nhiều vị gia chủ cúng dường những tấm lụa quí hiếm, nhưng Ngài đều giao lại cho đệ tử mình tùy nghi sử dụng. Truyện kể rằng có một lần bác sĩ Kỳ-bà được bệnh nhân tặng một xấp vải quí, không dính nước, đáng giá mười vạn đồng như là tiền thù lao của mình. Bác sĩ bèn đem vải dâng cúng cho đức Phật. Đức Phật đã trao vải lại cho tôn giả A-nan và tôn giả đã cắt vải may y cho đức Phật, La-hầu-la và các tỳ-kheo khác. Tạp Bảo Tạng kinh có ghi lại chuyện Di mẫu Kiều Đàm dùng tơ quí dệt thành một bộ y và đem dâng cúng lên đức Phật. Khi bị đức Phật từ chối, Di Mẫu tỏ ra không vui và thưa rằng bà đã từng nuôi nấng đức Thế Tôn trong thời thơ ấu và nay thì chính tay bà đã dệt bộ y này với mục đích duy nhất là cúng dường cho đức Phật. Đức Phật liền bảo bà nên đem cúng bộ y ấy cho chư tăng vì Tăng bảo là ruộng phước, cúng dường chư Tăng cũng chính là cúng dường Phật. Sau đó Di mẫu đến giữa Tăng đoàn và cúng bộ y này cho tôn giả Di-lặc5. Ngoài chuyện Di mẫu dâng cúng y cho đức Phật, kinh điển Phật giáo còn ghi lại chuyện tôn giả Đại Ca-diếp đổi y Tăng-già-lê mềm mại của mình để nhận tấm y phấn tảo của đức Phật. Tôn giả vốn thường thực tập hạnh đầu đà nhưng vẫn chưa tìm được một tấm y phấn tảo thích hợp nào. Một lần nọ đức Phật đến thăm lúc Tôn giả đang ở dưới một gốc cây, Tôn giả bèn gấp y Tăng-già-lê của mình và thỉnh đức Phật ngồi lên tấm y đó. Khi nghe đức Phật khen tấm y mềm mại, Tôn giả thành tâm xin được cúng dường tấm y của mình cho đức Phật và mong được thọ trì tấm y phấn tảo mà đức Phật đang dùng. Đức Phật biết Tôn giả đang cần y phấn tảo để thực hành hạnh đầu đà nên Ngài hứa khả6. Sau khi nhận được y, tôn giả đã sử dụng nó cho đến cuối đời mình. 

Các văn bản Phật học Pāli và Phạn ngữ dường như không nói nhiều về tấm y mà đức Phật dùng trong những năm du hoá cuối đời và khi Ngài nhập diệt. Sách Pháp Uyển Châu Lâm có thuật lại chuyện về tấm y Tăng-già-lê của đức Phật do một vị trời Tứ Thiên Vương kể cho luật sư Đạo Tuyên như sau. Trước khi nhập diệt ba tháng, đức Thế Tôn bảo ngài Văn Thù triệu tập đại chúng tại đạo tràng. Khi hội chúng đã vân tập, đức Phật bèn kể rằng sau khi vượt thành xuất gia và đổi y phục cho một người thợ săn, Ngài được một vị thần cây dâng lên y Tăng-già-lê của đức Phật Ca-diếp theo như lời phó chúc của đức Ca-diếp. Sau ngày thành đạo đức Phật đã thọ trì và giữ gìn tấm y này một cách cẩn thận suốt năm mươi năm7. Theo tác phẩm Đại Đường Tây Vực ký của ngài Huyền Trang, khi hay tin đức Phật nhập diệt, Ma-da phu nhân cùng chư thiên từ cung trời Đao Lợi đã đến Câu-thi-na để chiêm ngưỡng lần cuối kim thân cùng y Tăng già lê, bình bát và tích trượng của đức Phật8. Cũng theo ngài Huyền Trang, khi đến thành Ê-la ở Tây Bắc Ấn, ngài đã được chiêm ngưỡng xá-lợi và y Tăng-già-lê của đức Phật9. Theo bộ Phật Sử, sau lễ trà tỳ tại Câu-thi-na, xá-lợi của đức Phật được sứ giả tám nước mang về xây tháp cúng dường; những vật tùy thân khác của Ngài được đưa về thờ ở nhiều nơi khác nhau như bình bát và tích trượng ở Vajirā, hạ y ở Kusaghara, thắt lưng ở Pāṭaliputra, y tắm ở Campā, Pháp y ở cung trời Phạm thiên10. Tuy nhiên tác phẩm này không nói rõ vì lý do gì di vật của đức Phật được mang đến những nơi đó và việc thờ phụng, giữ gìn chúng ra sao. 

Cùng với y, bình bát của đức Phật cũng được xem như xá-lợi của đức Phật và là bảo vật truyền thừa của chư Phật. Theo các sử liệu Phật giáo của cả hai truyền thống Nam và Bắc truyền, sau khi thành đạo dưới cội Bồ-đề, đức Phật đã thọ dụng bữa ăn đầu tiên vào tuần thứ tám do hai thương gia Đề Vị (Tapussa) và Ba-lợi (Bhallika) dâng cúng. Khi được hai thương gia dâng cúng thực phẩm, đức Phật liền nghĩ rằng chư Phật trong ba đời đều dùng bình bát để thọ dụng vật thực, nay ta cũng nên theo truyền thống này. Lúc bấy giờ có bốn vị Thiên vương biết được tâm niệm đó nên mỗi người mang một bình bát bằng đá đem dâng lên đức Phật. Vì thương tưởng các vị Thiên vương này, đức Phật liền nhận cả bốn bình bát và Ngài dùng thần lực khiến cho bốn bình bát này trở thành một bình bát duy nhất11. Bình bát này về sau trở thành vật tùy thân của đức Phật trong suốt những năm du hóa của Ngài. 

Cuối TK IV TL, khi ngài Pháp Hiển đến nước Phất-lâu-sa (thuộc khu vực Càn-đà-la), Ngài đã có duyên được chiêm ngưỡng và lễ bái bình bát khất thực nói trên của đức Phật trong một tu viện tại đó. Theo ngài Pháp Hiển, khi vua Nguyệt Dân chinh phạt nước này, vua muốn mang bình bát về nước mình để thờ phụng nhưng dù bằng mọi cách khác nhau, ngay cả khi dùng sức của tám voi, vua cũng không cách nào đem bình bát đi được. Nghĩ rằng nhân duyên chưa đến, vua bèn xây bảo tháp cùng một ngôi già lam để thờ bát. Hằng ngày, trước giờ ngọ và vào ban đêm, chư Tăng và tín đồ được phép đến lễ bái, cúng dường bát. Điều lạ là khi những người nghèo dâng cúng một vài vòng hoa thì hoa nở rộ đầy bát, còn khi những phú gia đặt hàng trăm vòng hoa vào bát, bát vẫn không khi nào đầy12. Hơn hai thế kỷ sau khi ngài Huyền Trang đến nơi này, bình bát nói trên không còn nữa và chỉ còn lại bệ thờ của bình bát mà thôi. Ngài Huyền Trang cũng cho biết rằng bình bát đã di chuyển đến nhiều nước và vào thời điểm đó bình bát hiện đang ở xứ Ba Tư13.

Khi đến Tích Lan, ngài Pháp Hiển có gặp một nhà sư Ấn Độ và vị này cho biết rằng bình bát khất thực của đức Phật vốn được thờ tại Tỳ-xá-ly và sau đó cứ vài trăm ngàn năm sẽ tuần tự di chuyển đến các nước khác nhau như Càn-đà-ka, Kế Tân, Tích Lan, Trung Hoa…và cuối cùng thì quay lại Ấn Độ. Khi trở về Ấn Độ, bình bát sẽ được mang lên trời Đâu-suất. Nơi đây, đức Di-lặc cùng chư thiên đều mừng rỡ cung đón và thiết lễ cúng dường trong bảy ngày. Từ cung Đâu Suất bình bát sẽ được mang về lại Diêm-phù-đề và được Long vương mang xuống long cung. Đến lúc đức Di-lặc sắp thành Phật bình bát sẽ được phân thành bốn bình bát cũ tại núi Át-na. Khi đức Di -lặc thành đạo có bốn vị Thiên vương sẽ mang bốn bình bát này dâng lên đức Di Lặc. Ngài Pháp Hiển cho rằng chư Phật trong hiền kiếp đều có chung một truyền thống nhận bát như thế14.

Bình bát của đức Phật được xem là một bảo vật luôn mang lại nhiều phước lành cho nhân gian, là biểu tượng cho sự hưng hiển của chánh pháp. Khi bình bát này được mọi người tôn thờ và giữ gìn cẩn thận thì lúc đó chánh pháp được vững mạnh. Lúc bình bát bị vỡ hay sắp biến mất cũng là lúc báo hiệu cho thời kỳ mạt pháp. Theo Phật diệt độ hậu quán liệm táng tống kinh, khi bình bát này di chuyển đến nước nào thì nơi ấy tai ương, ách nạn tiêu trừ, mùa màng đượm nhuần, chánh pháp hưng hiển, vua chúa nhân từ, muôn dân đều sống trong thanh bình và an lạc15. Cho đến thời kỳ mạt pháp, lúc những điềm xấu như bệnh dịch, mất mùa, thiên tai xuất hiện, thọ mạng loài người ngắn dần, thực phẩm trở nên khan hiếm, v.v… thì đó cũng chính là lúc bình bát không còn lưu lại trong nhân gian16. Vào thời điểm bình bát được mang xuống long cung, cõi Diêm-phù-đề đều chấn động, mặt trời, mặt trăng đều ẩn khuất, bầu trời trở nên tối tăm suốt bảy ngày, bảy đêm17. Kinh Liên Hoa Diện có kể lại một câu chuyện rằng: Vào thời quá khứ có một môn đồ phái Phú-lan-na tên là Liên Hoa Diện. Người này tuy thông thạo thiên văn, địa lý nhưng tâm thức vẫn còn si ám, mê muội. Sinh tiền, Liên Hoa Diện có cúng dường cho bốn vị La-lán nhưng trong lúc cúng dường anh ta bỗng khởi lên một ý niệm thâm độc rằng sau này chính mình sẽ phá hoại Phật pháp. Do phước cúng dường trên nên trong nhiều đời Liên Hoa Diện được thân hình đoan nghiêm. Đến đời rốt sau Liên Hoa Diện thác sanh trong hoàng tộc và về sau trở thành vua Mị-chi-hạt-la-câu-la. Vua vốn là người sùng tín ngoại đạo nên tìm mọi cách ngược đãi Phật giáo và cũng chính ông đã phá vỡ bình bát của đức Phật. Chẳng bao lâu sau khi làm vỡ bình bát vua bị đọa vào đại địa ngục. Cũng vì bình bát của đức Phật bị vua Mị-chi phá hoại nên chánh pháp theo đó cũng dần dần bị suy vong18.

Bình bát mà vua Mị-chi phá vỡ không phải là bình bát của bốn vị Thiên Vương nói trên mà đó là một trong số những bình bát mà đức Phật đã dùng khi Ngài còn tại thế. Sách Pháp uyển châu lâm có nói đến một bình bát bằng đất do một vị thần núi dâng cho đức Phật sau ngày thành đạo. Trong suốt ba mươi tám năm sau đó, đức Phật luôn sử dụng bình bát này rất cẩn thận. Một lần nọ Ngài được quốc vương xứ Ma-kiệt-đà thỉnh vào thành Vương Xá để thọ trai. Sau giờ ngọ hôm ấy, La-hầu-la mang bình bát này đến hồ Rồng để rửa nhưng chẳng may làm vỡ bình bát thành năm mảnh. Lúc ấy thay vì trách cứ La-hầu-la, đức Phật bèn vá lại bình bát và Ngài tiên đoán rằng trong tương lai, sau khi Ngài diệt độ có những người xuất gia không tôn kính và thọ trì giáo pháp, trong năm trăm năm đầu luật tạng bị chia thành năm bộ, giáo pháp thì bị chia thành mười tám bộ và đến lúc chánh pháp suy tàn, tam tạng thánh điển bị chia thành năm trăm bộ. Bình bát này về sau được các vị Đế Thích, Thiên Vương, Long Vương… tuần tự thờ phụng, cúng dường và cuối cùng được trao lại cho đức Phật Di-lặc trong tương lai19. 

Một trong những sự kiện quan trọng liên quan đến việc truyền thừa y và bát của đức Phật Thích-ca cho đức Di Lặc trong tương lai đó là việc tôn giả Đại Ca-diếp nhập định lưu thân tại núi Kê Túc. Các tác phẩm Pāli không nói gì về sự kiện nhập diệt của tôn giả Đại Ca-diếp, riêng luận Đại Tỳ-bà-sa và A-dục Vương truyện có nói chi tiết về việc này như sau: Khi biết cơ duyên hoằng hóa đã mãn, Tôn giả quyết định vào núi Kê Túc nhập đại định đợi đến khi đức Di-lặc thành đạo sẽ trao lại y bát của đức Thích-ca. Trước khi lên núi, Tôn giả vào thành Vương Xá để từ biệt vua A-xà-thế. Lúc ấy nhà vua còn đang nghỉ nên Tôn giả một mình lên Kê Túc. Sau khi thức dậy, vua A-xà-thế bèn tìm gặp tôn giả A-nan và nhờ Tôn giả đưa mình đến đảnh lễ ngài Đại Ca-diếp. Khi cả hai đến núi Kê Túc, theo như lời nguyện của ngài Đại Ca-diếp, núi bỗng mở ra và cả hai cùng được chiêm ngưỡng và đảnh lễ tôn giả Đại Ca-diếp lần cuối20. Núi Kê Túc thuộc Bắc Ấn là nơi những người Phật tử thường đến chiêm bái. Theo ngài Pháp Hiển, nơi đây thường có các vị La Hán lai vãng, trong núi có nhiều hổ, báo và sư tử21. Đại Đường Tây Vực ký của ngài Huyền Trang thì ghi lại rằng núi này cao chót vót, động sâu hun hút, cây cối chằng chịt, đường dốc chập chùng, người đời sau vì kính trọng tôn giả Đại Ca-diếp nên gọi núi này là Tôn Túc. Hai mươi năm sau kỳ kiết tập kinh điển, tôn giả Đại Ca-diếp biết mình sắp nhập diệt nên theo lời phú chúc của đức Phật vào núi này nhập định để sau này trao lại y báu cho đức Di Lặc22.

Việc tôn giả Đại Ca-diếp dâng y cho đức Di Lặc được thuật chi tiết trong kinh Phật thuyết Di Lặc đại thành Phật. Theo bản kinh này, khi đức Di Lặc vừa dùng thần lực mở núi Kê Túc, Phạm Vương liền dùng dầu thơm cõi trời xoa trán và thân của tôn giả Đại Ca-diếp. Tôn giả bèn ra khỏi Diệt tận định, trần vai phải, quỳ gối phải, thưa thỉnh và dâng y Tăng già lê của đức Thích-ca lên đức Di Lặc. Lúc ấy hội chúng của đức Di Lặc bèn bạch Ngài rằng vì sao hôm nay trên ngọn núi này có một chúng sanh đầu nhỏ như côn trùng, mặc y Sa-môn, lễ bái Ngài như thế. Đức Di Lặc bèn dạy các đệ tử Ngài rằng đừng nên khởi tâm khinh mạn người này. Đây chính là tôn giả Đại Ca-diếp, bậc đầu đà đệ nhất trong số một ngàn hai trăm năm mươi vị đệ tử thân cận của đức Phật Thích-ca, là vị Sa-môn tu hành rất tinh tấn, luôn thương tưởng những chúng sanh bần cùng, bậc tối thắng trong hàng trời, người… các ông nên một lòng chắp tay kính lễ vị ấy. Khi nghe đức Di-lặc dạy như vậy, cả hội chúng không còn thắc mắc, tất cả đều lễ bái tôn giả Đại Ca-diếp23.

Theo Đại trí độ luận, loài người sanh trong thời đức Di Lặc có thân hình to lớn và tuổi thọ cũng cao hơn nhiều so với loài người trong thời đức Thích-ca nên khi thấy tôn giả Đại Ca-diếp có thân hình nhỏ, đắp pháp phục và thi triển được thần thông cả hội chúng của đức Di Lặc đều kinh ngạc. Lúc ấy đức Di Lặc liền dạy các hàng đệ tử của mình rằng tuy thân nhỏ nhưng tôn giả Đại Ca-diếp đã thành tựu những pháp thù thắng, còn các ông là hàng lợi căn, thân hình to lớn há lại không thành tựu những công đức như thế sao. Khi đó cả hội chúng đều sinh tâm hổ thẹn, khiêm nhường. Đức Di Lặc nhân đó thuyết pháp giáo hóa khiến cho nhiều người chứng đắc thánh quả24. Điều đáng chú ý là dù chúng sanh sinh trong thời đức Di Lặc có thân hình to lớn hơn nhiều so với chúng sanh trong thời đức Thích-ca, nhưng tấm y mà tôn giả đại Ca-diếp dâng lên vẫn xứng hợp với đức Di Lặc. Điều này được ngài Đạo Nguyên, sơ tổ dòng Tào Động tại Nhật giải thích như sau: “Kích thước cơ thể của người phàm khác hẳn với kích thước cơ thể của đức Phật. Cơ thể của người phàm thì có thể đo lường còn cơ thể của đức Phật không thể đo lường được. Vì lý do đó nên y của Phật Ca-diếp xứng hợp với đức Phật Thích-ca, và y của đức Phật Thích-ca cũng xứng hợp với đức Phật Di Lặc”25.

Khi Thiền tông hưng khởi tại Trung Hoa, y, bát được xem là những biểu tượng thiêng liêng của chánh pháp và là vật truyền thừa tối quan trọng trong thiền môn. Truyền thống này bắt nguồn từ giai thoại đức Thế Tôn trao truyền chánh pháp nhãn tạng cho tôn giả Đại Ca-diếp trên hội Linh Sơn được ghi lại trong Vô môn quan26. Cảnh đức truyền đăng lục có chép rằng sau khi truyền tâm ấn cho ngài Huệ Khả, tổ Bồ-đề Đạt-ma còn truyền pháp y để minh định tông chỉ nhà thiền và xem đó như bảo vật để minh chứng cho sự truyền thừa từ một tổ sư Thiên Trúc cho một môn đồ đắc pháp Trung Hoa. Tổ Đạt-ma còn huyền ký rằng sau khi ngài diệt độ hai trăm năm, lúc người biết đạo thì nhiều mà hành đạo thì ít, nói lý thì nhiều mà tỏ lý thì ít, pháp y không được truyền thừa nữa27. Lịch đại pháp bảo ký cũng thuật lại rằng lúc trao pháp y cho nhị tổ Huệ Khả, tổ Đạt-ma căn dặn rằng ví như khi một vị Chuyển Luân Thánh Vương vừa lên ngôi được bảy món báu, việc truyền ca-sa là để biểu trưng cho sự truyền thừa chánh pháp28. Như thế việc truyền thừa y, bát trong Phật giáo, đặc biệt là trong Thiền tông ám chỉ cho sự truyền pháp của một vị thầy hay một thiền sư cho người đệ tử nào xứng đáng và đã đắc pháp với mình. Chúng ta có thể biết rõ hơn điều này qua việc ngài Phật-đà Bạt-đà-la truyền y cho ngài Tăng Triệu hay tổ Đạo Tín truyền y cho ngài Pháp Dung.

Truyền thống Thiền tông cũng cho rằng pháp y được truyền từ thời tổ Đạt-ma cho đến thời ngài Huệ Năng chính là tấm y mà đức Phật đã truyền lại cho tôn giả Đại Ca-diếp, người lãnh hội được yếu chỉ của thiền trên pháp hội Linh Sơn. Song theo huyền ký của tổ Đạt-ma nói trên cũng như trong kinh Pháp Bảo Đàn29 khi được đệ tử Pháp Hải hỏi về việc truyền pháp y, ngài Huệ Năng đáp rằng cứ theo di kệ của tổ Bồ-đề Đạt-ma, sau khi Ngài viên tịch pháp y sẽ không được truyền thừa như trước nữa. Theo ngài Thần Hội, tại Ấn Độ, nơi có những bậc Cao tăng sống đời thanh bạch và nghiêm tịnh pháp y không được xem như là ấn tín. Việc truyền thừa y để ấn chứng chỉ xảy ra ở những nơi có quá nhiều người tham cầu tiếng tăm, lợi dưỡng, hay tranh cãi và sống thô tục, chẳng hạn như Trung Hoa30.

Ngoài ý nghĩa biểu trưng cho sự hiện hữu của đức Thế Tôn tại nhân gian, y và bát của đức Phật còn là một thông điệp đầy ý ghĩa đối với hàng đệ tử của Ngài. Trong sinh hoạt của Tăng đoàn việc thọ trì y và bát theo luật nghi là một điều tối quan trọng để hội chúng xuất gia được thanh tịnh và để kế thừa truyền thống chánh pháp của chư Phật trong nhiều đời. Phẩm hạnh của mỗi người xuất gia được hình thành một phần nhờ vào nếp sống thiểu dục, tri túc thông qua việc thọ nhận phẩm vật của người đời để nuôi thân và che thân. Y và bát của đức Phật hay của mỗi người xuất gia vừa là để phân biệt với lối sinh hoạt của người thế tục, nhưng đồng thời cũng nói lên chí nguyện, hoài bão mà người xuất gia đang hướng đến. Con người sở dĩ chịu quá nhiều đau khổ, tai ương là vì họ quá đam mê ngũ dục. Hình ảnh một bậc vương tử, một người tầm đạo khả kính nhất, một bậc đạo sư của ba cõi sống một cuộc đời thanh đạm với y phục hoại sắc và bình bát đơn sơ sẽ mãi mãi là hình ảnh cao đẹp và thâm thúy nhất đối với những ai đang thao thức về một lẽ sống thuần tịnh và thanh cao, những ai đang hướng về một lý tưởng trong sáng, và những ai đang tiếp bước trên con đường mà các bậc tiền nhân khả kính đã đi qua. ■

 

Chú thích:

1. Theo Chú Giải Kinh Bổn Sanh, vị Phạm thiên này vốn là một người bạn của thái tử trong thời Phật Ca-diếp. Kinh Phổ Diệu còn ghi rằng khi trở về thiên giới, vị phạm thiên này đã xây một bảo tháp để thờ bộ y phục của thái tử.

2. T 25n1509, tr. 538b.

3. Căn Bổn Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ Tỳ-nại-da Phá Tăng Sự, quyển 4, T24n1450, tr. 118a.

4. J.S. Strong, Relics of the Buddha, New Jersey: Princeton University Press, 2004, p. 216. 

5. T4n203, tr. 470a. Tham khảo thêm Kinh Phân Biệt Cúng Dường, số 142, Trung Bộ Kinh.

6. Kinh Tương Ưng, Phẩm Tương Ưng Ca-diếp XVI.

7. T53n2122, tr. 560a-b.

8. T51n2087, tr. 904b.

9. Sđd, tr. 879a-b.

10. Horner, I.B. The Minor Anthologies of the Pali Canon, Part III, London: Pali Text Society, 1975, pp. 98-99.

11. Xem Đại Phẩm I, Bổn Sanh I, Ngũ Phần Luật, quyển 15, Tứ Phần Luật quyển 31, Căn Bổn Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ Tỳ Nại Da Phá Tăng Sự, quyển 5, Phật Thuyết Thái Tử Thụy Ứng Bổn Khởi Kinh (T3n185, tr. 479a), Quá Khứ Hiện Tại Nhân Quả Kinh, quyển 3 (T3n189, tr.643b), Phật Bổn Hạnh Tập Kinh, quyển 32 (T3n190, tr.801b-c), Phương Quảng Đại Trang Nghiêm Kinh, quyển 10 (T3n187, tr. 601a), Phổ Diệu Kinh, quyển 7 (T3n186, tr. 526b-c).

12. Cao Tăng Pháp Hiển Truyện, T51n2085, tr. 858b-c.

13. Đại Đường Tây Vực Ký, T51n2087, tr.879c.

14. Sđd, tr. 865c.

15. T12n392, tr. 1114b-c.

16. Cao Tăng Pháp Hiển Truyện, tr. 865c.

17. Liên Hoa Diện Kinh, T12n386, tr. 1076a.

18. Sđd, tr. 1075c.

19. T53n2122, tr.1008b-c.

20. T50n2042, tr. 114c. T27n1545, tr. 698b.

21. T51n2085, tr. 864a.

22. T51n2087, tr. 919b-c.

23. T14n456, p. 433b-c.

24. T 25n1509, tr. 79a.

25. B. Faure, “Quand L’habit Fait Le Moine: The Symbolism of the Kāṣāya in Sōtō Zen” in Chan Buddhism in Ritual Context, Ed. B. Faure, London: Routledge Curzon, 2003, p. 214.

26. T48n2005, tr. 293c.

27. T51n2076, tr. 219c.

28. T51n2075, tr. 181a-b.

29. T48n2008, tr. 361a

30. J. Kieschnick, The Impact of Buddhism on Chinese Material Culture, New Jersey: Princeton University Press, 2003, pp. 106-107.

 

[Tập San Pháp Luân.30.Tr,30.2006]