Người Phật tử tại gia

Typography

Ở đây người viết chỉ giới thiệu một cách thật sơ lược về các nấc thang tu tập mà một người Phật tử tại gia có thể thực hiện để thăng hoa đời mình vượt qua khổ não. (YTA)

Người Phật tử tại gia (Tiếp theo)

BỔN PHẬN THIÊNG LIÊNG

Trên bình diện tương đối, các pháp hiện hữu trong chiều kích tương quan tương duyên mật thiết, từ một hạt bụi đến sơn hà đại địa, không một pháp nào có thể tồn tại mà không có mối tương sinh tương hệ với những pháp khác. Con người cũng vậy. Làm người ai mà không có những liên hệ gắn bó với gia đình và xã hội. Người Phật tử cũng không ngoại lệ và còn có thêm mối tương quan với đạo pháp nữa. Trong mối liên hệ ấy, người Phật tử tất nhiên phải thể hiện bổn phận của mình sao cho toàn vẹn.

1. ĐỐI VỚI BẢN THÂN: Người Phật tử trước hết phải chuyển hóa bản thân mình trong mục tiêu giác ngộ vô minh và giải thoát phiền não. Có chuyển hóa được bản thân mình thành một người hữu ích, người Phật tử mới nói đến việc làm tròn bổn phận đối với gia đình, xã hội và đạo pháp. Khi bản thân mình chưa được chuyển hóa thì mình chính là căn nguyên của mọi phiền não, khổ đau và bất ổn, như vậy làm sao người Phật tử có thể chuyển hóa cho gia đình và xã hội?

Gia đình và xã hội đều lấy cá nhân của mỗi con người làm thành tố cơ bản, vì gia đình và xã hội chỉ là một tập hợp của nhiều cá nhân. Chính vì thế, người Phật tử phải nỗ lực tu sửa bản thân, nghiêm túc chấp hành các quy giới mà mình đã thọ, y chỉ theo lời Phật dạy và theo sự hướng dẫn của vị Bổn sư tu tập các pháp môn, diệt trừ tham sân si, phá bỏ bản ngã vị kỷ. Song song với việc chuyển hóa tâm thức, xây dựng đạo đức bản thân, người Phật tử cần phải nỗ lực không ngừng trong việc lành mạnh hóa cơ thể để có đầy đủ thể lực tiếp tục con đường tu tập độ mình và người. Phát huy trí tuệ và thể hiện tâm từ bi cũng là bổn phận thiêng liêng của người Phật tử tại gia đối với bản thân.

Chuyển hóa cá nhân theo tinh thần của đạo Phật cũng chính là phương cách trọng yếu nhất để hộ trì Phật pháp. Mỗi người Phật tử tại gia sống như Chánh pháp nghĩa là thể hiện hiệu năng giác ngộ và giải thoát của đạo Phật trong đời sống thường nhật của mình, tức là góp phần xưng đáng vào việc duy trì và phát huy tinh hoa và chất liệu sinh động của đạo Phật giữa cuộc đời. Bởi vậy, những ai dù mang danh nghĩa là Phật tử nhưng trong đời sống thực tế không thật sự sống theo tinh thần của đạo Phật, không có lòng chuyển hóa cuộc đời mình từ tăm tối khổ đau lên tỉnh giác an lạc, thì đó chỉ là thứ danh nghĩa suông không ích lợi gì cho mình và đạo. Người như thế làm sao nói đến việc xây dựng gia đình, xã hội và hộ trì Phật pháp?

2. ĐỐI VỚI GIA ĐÌNH: Lần đầu tiên khi con người biết nhìn ra thế giới bên ngoài và thật sự nhận thấy có sự hiện hữu của người khác ngoài bản thân mình, kẻ tha nhân ấy chính là những thành viên của gia đình, là ông bà cha mẹ anh em và vợ chồng con cái. Tha nhân ở đây không phải là kẻ xa lạ mà chính là một người khác, một hiện hữu khác ngoài bản thân của mình. Trong ý nghĩa đó, khi một người biết quan tâm và lo lắng đến gia đình tức là người đó đã thật sự bước ra ngoài cái vỏ ốc vị ngã của mình. Thể hiện tinh thần vị tha của đạo Phật, trước hết và cơ bản, có thể bắt đầu từ đây. Hơn thế nữa, công lao sinh thành dưỡng dục lớn lao của ông bà cha mẹ, tình nghĩa sâu đậm của vợ chồng, và mối liên hệ huyết thống đối với con cái là động lực để cho mỗi thành viên trong gia đình phải có bổn phận với nhau.

Chính vì vậy, người Phật tử tại gia có bổn phận thiêng liêng phải xây dựng và chuyển hóa gia đình. Xây dựng gia đình có nghĩa là làm tròn trọng trách của ông bà đối với con cháu, của cha mẹ đối với con cái, của chồng đối với vợ hay của vợ đối với chồng, và của con cháu đối với ông bà cha mẹ. Khi mỗi người trong gia đình làm tròn bổn phận của mình tức là cách xây dựng gia đình hữu hiệu nhất. Cha mẹ thì cấp dưỡng đầy đủ cho con cái từ tinh thần đến vật chất, từ cách sống đạo đức đến cách tiếp xử với tha nhân. Vợ chồng thì đối xử nhau tương kính tương thuận và thành thật chung thủy. Con cái thì đối với cha mẹ một lòng kính trọng hiếu thảo.

Chuyển hóa gia đình có nghĩa là mỗi thành viên trong gia đình đều có bổn phận mang tinh thần của đạo Phật vào đời sống gia đình để từ đó cảm hóa những người thân của mình. Phương cách cảm hóa kiến hiệu nhất là chính mình làm gương cho gia đình trong việc thực nghiệm sự giác ngộ và giải thoát của đạo Phật. Đem tinh thần của đạo Phật vào đời sống thực tế bằng cách hiếu thảo với người trên, hòa thuận và thương yêu kẻ dưới, sống không tà hạnh để giữ hạnh phúc vợ chồng, sống không nói dối để dạy con thành thật, sống không rượu chè cờ bạc để làm gương kỷ cương, giáo dục vợ chồng con cái bằng tinh thần tự giác giác tha, từ bi khoan dung và độ lượng để khai mở tâm thức cho người thân. Hướng dẫn gia đình đến gần với đạo Phật bằng cách đưa gia đình đi chùa thường xuyên, khuyến khích việc đọc tụng kinh điển, hay nghe giảng kinh thuyết pháp. Cổ võ việc thực hành các điều lành và xa lánh các việc ác.

3. ĐỐI VỚI XÃ HỘI: Một cá nhân hay một gia đình không thể tồn tại nếu không có mối tương quan tương duyên với xã hội. Con người thọ nhận rất nhiều ân huệ từ xã hội mà họ sinh trưởng, từ vật chất đến tinh thần. Cơm chúng ta ăn, áo chúng ta mặc, nhà chúng ta ở, kiến thức chúng ta có được, đạo đức và luân lý chúng ta thừa hưởng, tất cả đều là sản phẩm của xã hội mà trong đó chúng ta sinh tồn. Như thế, làm người ai cũng phải có bổn phận đóng góp vào việc xây dựng xã hội theo khả năng và hoàn cảnh của mình.

Đối với người Phật tử tại gia, ngoài ân huệ của xã hội, đối với họ còn là vấn đề hạnh nguyện vị tha xuất phát từ tâm niệm từ bi đối với đồng loại, đối với chúng sanh. Ngày nào mà xã hội còn phiền não, khổ đau và bất ổn thì ngày đó người Phật tử tại gia còn phải thi thiết hạnh nguyện cứu khổ ban vui cho mọi người. Mục tiêu xây dựng xã hội của người Phật tử tại gia là để chuyển hóa xã hội từ vô minh và phiền não đến giác ngộ và giải thoát. Để hoàn thành việc xây dựng xã hội, người Phật tử tại gia cần thực hiện bốn phương thức nhiếp hóa mà đạo Phật gọi là Tứ Nhiếp Pháp sau đây:

a. Bố Thí: Ban phát điều gì cho người khác với tâm niệm từ bi bình đẳng gọi là bố thí. Người Phật tử tại gia có thể thực hiện việc bố thí qua ba cách: Thứ nhất, đem tài sản của cải mà mình có ban phát cho người khác, hoặc cũng có thể đem thân xác của mình mà bố thí cho người khác. Thứ hai, đem giáo pháp thậm thâm vi diệu của chư Phật mà ban bố cho người khác để họ có thể theo đó mà tu tập. Thứ ba, làm chỗ che chở cho người khác khiến ho không còn sợ sệt.

b. Ái ngữ: Người Phật tử tại gia có thể dùng lời lẽ dịu dàng, bình dị và khoan dung để cảm hóa nhân quần xã hội. Người sử dụng ái ngữ đúng theo tinh thần của đạo Phật là người không khởi niệm hận thù, sân si đối với tha nhân, hay nói cách khác, là người luôn luôn mang tâm niệm từ bi bình đẳng trong mọi hoàn cảnh. Người như thế lúc nào cũng nghĩ đến việc cứu giúp kẻ khác thoát khỏi khổ đau.

c. Lợi hành: Để cảm hóa tha nhân và xây dựng xã hội, người Phật tử tại gia cũng phải lăn xả vào các công tác từ thiện làm lợi ích cho mọi người. Làm bất cứ điều gì, người Phật tử tại gia cũng nghĩ đến lợi ích giác ngộ vô minh và giải thoát khổ đau cho con người, cho xã hội. Trong phương cách này, người Phật tử tại gia đôi khi phải thể hiện đức hùng lực để khuất phục các thế lực vô minh manh động và kiến tạo sự an lạc thái bình cho xã hội.

d. Đồng sự: Vì để cảm hóa con người và xã hội, người Phật tử tại gia có lúc cũng phải dấn thân vào mọi hình thái sinh hoạt đa dạng của xã hội, như nhập cuộc vào các tầng lớp xã hội, như làm người thương gia, viên sĩ quan, vị tướng, nhà giáo, vị tu sĩ, người nông dân, v.v… Có dấn thân vào các hình thái sinh hoạt đa dạng của xã hội như thế, người Phật tử tại gia mới có thể thực hiện thuận tiện hạnh nguyện tự giác giác tha của mình.

4. ĐỐI VỚI ĐẠO PHÁP: Nhờ ân đức của đạo Phật, của Tam bảo mà người Phật tử tại gia mới thấy được hướng đi đích thực, mới xác định được chánh tín, mới tìm được phương thức chuyển hóa đời sống cá nhân, gia đình và xã hội của mình một cách thực tiễn và ích dụng. Trong ý nghĩa này, đạo Pháp quả thật là quý giá vô ngần, là mầu nhiệm vô lượng đối với người Phật tử tại gia. Đạo Pháp quý giá và mầu nhiệm này cần phải được bảo trì và xiển dương để làm lợi ích cho mình và nhân quần xã hội.

Vì vậy, hộ trì Tam bảo và xiển dương Phật pháp là bổn phận thiêng liêng của người Phật tử tại gia. Nhưng người Phật tử tại gia hộ trì đạo pháp như thế nào?

Trước hết và căn bản nhất là mỗi người Phật tử tại gia phải nỗ lực hành trì Phật pháp và chuyển hóa đời sống cá nhân mình. Đem Phật pháp nhiệm mầu phổ biến khắp nơi bằng kinh sách, bằng thuyết hóa, bằng đời sống gương mẫu của mình. Thường xuyên đi chùa tụng kinh, nghe Pháp, và làm việc từ thiện hay góp phần vào những sinh hoạt của các tổ chức Phật giáo. Xem Phật pháp là mạng mạch của đời sống, người Phật tử tại gia cho đến trọn đời không bao giờ rời bỏ.

KẾT LUẬN

Người Phật tử tại gia nên thường trực quán niệm rằng, chúng ta sinh ra trên cõi đời này dù là với muôn ngàn khổ lụy, song có điều thật hy hữu mà chúng ta lại có được đó là làm người. Đức Phật đã từng dạy rằng làm người là một điều rất khó trong thân phận của một chúng sinh. Nhưng Ngài cũng đồng thời dạy rằng gặp được Chánh pháp lại càng khó hơn. Người nào càng lịch nghiệm trong sự vô thường và khổ đau của cuộc đời càng nhiều thì sẽ nhận thức được một cách sâu sắc về giá trị mầu nhiệm của giáo pháp đức Phật. Bởi vì, giáo pháp ấy là diệu dược có công năng phi thường trong việc chữa lành bệnh khổ não cho chúng sinh.

Đời này, chúng ta không những đã được sinh làm người mà còn được gặp Chánh pháp. Chính vì thế, là một Phật tử tại gia, chúng ta phải biết trân quý và vận dụng giá trị của kiếp người cho việc học hỏi và thực nghiệm Chánh pháp. Đồng thời phát tâm dõng mãnh trong việc bảo tồn và xiển dương Phật pháp để làm lợi lạc cho quần sinh. Có như vậy, chúng ta mới có thể báo đáp phần nào trong muôn một ân đức hóa độ sâu dày của đức Phật và lịch đại Tổ sư, cũng như không hỗ thẹn mang danh là người con Phật.

Ỷ Thu Am.

[Tập san Pháp Luân - số 5, tr.]