Cứng và mềm trong đôi mắt thiền quán

Typography

Răng và lưỡi là hai đề tài thiền quán mà mỗi ngày và mỗi ngày tôi thực tập để nhìn sâu vào sự hiện hữu của nó trong đời sống.(TN)

Răng và lưỡi là hai đề tài thiền quán mà mỗi ngày và mỗi ngày tôi thực tập để nhìn sâu vào sự hiện hữu của nó trong đời sống. Lưỡi mềm nằm giữa hai hàm răng cứng, chúng không những giúp ta ăn mà còn giúp ta nói. Cái ăn của chúng ta chưa bao giờ thành tựu, nếu chỉ có lưỡi mà không có răng, hoặc chỉ có răng mà không có lưỡi. Không những vậy, răng và lưỡi còn giúp ta phát âm chuẩn xác, để ta có thể nói được cho mọi người nghe và hiểu, tạo ra sự cảm thông trong giao tiếp hàng ngày.

Trong cấu trúc sinh học của con người, răng sinh ra sau lưỡi, nhưng răng sẽ rụng trước lưỡi. Thọ mạng của lưỡi lâu dài hơn thọ mạng của răng, thọ mạng của răng ngắn hơn thọ mạng của lưỡi, tại sao? Điều đó hết sức dễ hiểu, là tại vì răng cứng lưỡi mềm. Cái gì cứng thì dễ gãy và dễ vỡ, cái gì mềm thì tồn tại dẻo dai.

Mềm chỉ đơn thuần là mềm, cái mềm ấy không thể nào tự nó đứng vững chãi; cái cứng đơn thuần, cái cứng ấy không thể tạo ra được những sinh lực để có thể linh hoạt và thảnh thơi trong mọi tình huống. Ở trong cái cứng phải có cái mềm, chính cái mềm ở trong cái cứng, khiến cho sự hiện hữu của cái cứng có ý nghĩa; và ở trong cái mềm có cái cứng khiến cho sự hiện hữu của cái mềm trở thành quý báu.

Từ cái cứng và cái mềm trong cấu trúc sinh học ở nơi miệng, ta lại có cái cứng và mềm trong âm thanh và ngôn ngữ; và từ cái cứng và cái mềm trong âm thanh và ngôn ngữ, nên ta có ngôn ngữ của âm nhạc và thi ca. Trong ngôn ngữ của âm nhạc và thi ca, cái cứng và cái mềm luôn luôn trộn lẫn vào nhau và có mặt trong nhau để tự nó tạo ra những cung bậc hòa điệu, khi thì bằng, lúc thì thăng, lúc thì trầm.

Và cũng từ nơi những cái cứng và mềm ấy, ta lại nhìn sâu vào những hạt giống cứng và mềm ở trong tâm ý của mỗi chúng ta. Trong tâm ý của chúng ta có những hạt giống cứng và cũng có những hạt giống mềm. Nếu trong tâm ta có quá nhiều hạt giống yếu mềm, chính những hạt giống nầy khiến cho ta phải tự đi tìm kiếm những nơi nương tựa, dù nơi ấy chỉ là một khúc cây khô mục đang lênh đênh trôi dạt giữa biển đời sóng cả. Và nếu trong ta có quá nhiều hạt giống cứng rắn, thì chính những hạt giống nầy cũng có khi khiến ta đi tìm kiếm một sự nương tựa mơ hồ nơi những làn khói hương hư ảo, nơi những giọt sương đêm, hay nơi những hạt nắng chiều rơi trên dòng nước biếc!

Bởi từ nơi những hạt giống cứng và mềm mất bình thường nầy, khiến cho bao kẻ đang cứng rắn bỗng chốc trở thành yếu mềm, họ có thể cứng rắn trên tư duy, nhưng họ lại yếu mềm trên tình cảm; và cũng có những người đang yếu mềm bỗng dưng trở thành cứng rắn, họ cứng rắn trong tình cảm, nhưng họ lại yếu mềm về mặt tư duy.

Ta yếu mềm về mặt tư duy, nhưng ta lại cứng rắn về mặt tình cảm, điều nầy chỉ giúp ta thành công năm mươi phần trăm trong cuộc sống; và ta cứng rắn về mặt tình cảm, nhưng ta lại yếu đuối về mặt tư duy, điều nầy cũng chỉ giúp cho ta thành công năm mươi phần trăm trong cuộc sống. Và trong cuộc sống của ta, sự thành công tăng lên không phải là ta sử dụng cái mềm để lôi kéo cái cứng và cũng không phải sử dụng cái cứng để đàn áp cái mềm, cũng không phải tạo ra sự cân đối giữa hai thế lực mềm và cứng, mà ta phải làm cho cái cứng luôn luôn có mặt và hòa điệu ở trong cái mềm và ta phải làm cho cái mềm luôn luôn có mặt và hòa điệu ở trong cái cứng, cứng và mềm hòa điệu với nhau bao nhiêu thì cuộc sống của ta sẽ thành công bấy nhiêu. Sự thành công của ta không những chỉ là an lạc, hạnh phúc đối với thân và tâm mà còn thành công trong mọi phong thái xử sự với đời. Nếu chất liệu cứng và mềm ở trong thân tâm ta có sự hòa điệu tuyệt đối, thì ta sống trong trạng thái lên hay xuống, hoặc không lên hay không xuống, ta đều có hạnh phúc và an lạc. An lạc và hạnh phúc của ta có mặt, khi nào hai chất liệu cứng và mềm trong thân tâm ta có mặt trong sự hòa điệu tuyệt đối, nghĩa là cái nầy là cái kia và cái kia là cái nầy, giữa hai cái ấy không còn có lằn mức của thời gian và không gian.

Thích Thái Hòa
[Tập san Pháp Luân - số 11, tr.31, 2005]

Phàm lệ

Đây là phần dịch Việt từ môn đọc hiểu Phật điển Sanskrit, khoá 12 khoa Phật học Sanskrit, Học Viện Phật Giáo Việt Nam tại Tp.HCM. Bản dịch này chủ yếu từ nguồn tài liệu chữ Phạn (Sanskrit) hiện hành, bên cạnh đó, do vì kinh điển thường tụng ở chùa Việt thường dùng âm Hán Việt, nên để tiện tham chiếu, dịch văn chữ Hán của La Thập tương ứng cũng được đính kèm.

Triṃśikāvijñaptimātratākārikā

Duy Thức Tam Thập Tụng - Đối chiếu Phiên dịch 

 “Khởi kỳ thủy thế gian chỉ có một mình Tự Ngã, trong hình dạng một con người (Purusha). Anh ta nhìn chung quanh không thấy có gì nữa ngoài bản thân mình. Thoạt tiên anh ta nghĩ: ‘Đây là Tôi’ do vậy anh ta trở nên có tên là ‘Tôi’.

Chữ “Mẹ” đối với ai cũng thật cao quý, thân thương, vì không ai không có mẹ, không ai không được mẹ mang nặng đẻ đau, chăm lo săn sóc, hy sinh tận tụy…

Cuối thu, bầu trời thật ảm đạm, những cơn mưa cứ ập đến có khi trầm ngâm, da diết rồi bỗng ào ạt, xốn xang như len lỏi tận cùng ngõ ngách của bao tấm lòng người con xa xứ. Kia, ông mặt trời hé môi cười báo hiệu cho buổi sáng tinh khôi, thoang thoảng đâu đây con nghe dìu dịu - hương tỏa ngát từ những cánh sen hồng. Bất chợt giật mình, Vu lan về rồi ư?

Ý niệm tình thương mà con người có được nơi trái tim có lẽ đã khơi nguồn từ tình thương của mẹ. Nói đến mẹ là nói đến tình thương. Con trẻ vừa lọt lòng là được tiếp xúc ngay với nguồn suối tình thương của mẹ.

Giữa thế kỷ thứ IV, Phật giáo từ Trung Quốc truyền vào bán đảo Hàn Quốc. Bấy giờ Hàn Quốc bị chia thành ba vương quốc: Cao Cú Ly (Kokuryu), Bách Tế (Paekche) và Tân La (Silla). Ngay sau khi Phật giáo truyền đến vương quốc Cao Cú Ly (372) và vương quốc Bách Tế (384) đã được hai vương quốc này công nhận là quốc giáo. Nhưng gần hai thế kỷ sau, vương quốc Tân La mới công nhận Phật giáo là quốc giáo. Đây là nguyên nhân vương quốc Tân La được thành lập sau cùng trong ba vương quốc khi quyền lực tập trung dưới sự cai trị của một vị vua.

Tâm lý học xã hội, tín ngưỡng tôn giáo được xem là nền tảng kiến tạo đạo đức, điều chỉnh trật tự xã hội. Trong tâm lý học xã hội, tâm lý giáo dục, tâm lý học đương đại, tâm lý quản lý và tâm lý trị liệu… các học giả đã đề cập vấn đề tín ngưỡng khá phổ biến. Tín ngưỡng trong xã hội học được xem là nhu cầu đáp ứng khát vọng tâm linh cho con người.

Tết đến, cũng như các dịp lễ lạc hệ trọng khác trong năm, Tăng, Ni, Phật tử các chùa thường làm báo tường, ra nội san… Nhân dịp xuân về, chúng tôi đề xuất một hình thức mới, đó là tạp chí video (còn gọi là tạp chí truyền hình, khi được đưa lên phát trên sóng truyền hình quảng bá hay truyền hình online).

Chúng tôi đã xem nhiều tác phẩm điện ảnh thể hiện sự đau khổ của kiếp người, nhưng có lẽ, phim Cánh đồng bất tận, chuyển thể từ tác phẩm văn học cùng tên của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư, là bộ phim khiến chúng tôi phải suy nghĩ nhiều nhất. So với tác phẩm văn học, cái khổ trong phim Cánh đồng bất tận được đẩy lên một tầng nấc mới, nặng nề và đau xót hơn nhiều.

Thái Bình – mảnh đất của những cánh đồng phì nhiêu, tươi tốt. Nằm bên bờ sông Hồng, một trong hai con sông lớn nhất Việt Nam (sông Hồng, Sông Cửu Long). Bởi vậy Thái Bình luôn đón nhận được những lớp phù sa phì nhiêu bồi tụ. Nó chính là chất liệu để làm nên đặc trưng truyền thống nông nghiệp lúa nước nơi đây, để rồi những đặc trưng đó đã quy định những giá trị văn hóa của vùng đất này – văn hóa nông nghiệp lúa nước.

Kể từ sau đời Hán, Đôn Hoàng trở thành con đường giao thông huyết mạch từ Trung Hoa sang Tây Vực, và cũng từ đó, văn hóa Trung Hoa dần dần được truyền đến Đôn Hoàng. Với vị trí tiếp giáp Tây Vực, Đôn Hoàng tiếp nhận văn hóa Phật giáo từ Ấn Độ rất sớm. Văn hóa Tây Á, Trung Á theo hướng truyền về phía đông của văn hóa Phật giáo Ấn Độ cũng dần dần được truyền đến Đôn Hoàng. Hai nền văn hóa Trung-Tây hội tụ, va chạm, hòa lẫn với nhau tại đây.

Những đêm dài heo hút giữa lòng con/ Đôi mắt Mẹ hiện về sâu thăm thẳm/Chừ tuổi hạc gầy hao theo tuế nguyệt/ Sương đêm rơi trong cõi nhớ chập chùng.

Con đành xa Mẹ từ lâu/ Đến nay mấy bận bạc màu xiêm y/ Thời gian còn lại những gì?!/ Còn hình bóng Mẹ khắc ghi trong lòng.

Vin cành lộc thắm - mẹ khai duyên/ Bảy bước, nhân gian trổ phước điền/ Ngưỡng vọng, phạm thiên che lọng trắng/ Tín thành, long chúa cúng mưa tiên

Truyền thông - "hiện đại hóa" hay thừa tiếp truyền thống Phật giáo?

Ta thường nghĩ rằng, Đạo và Đời là hai lãnh vực khác nhau, Đạo thì cao siêu, rộng lớn mà Đời thì phàm phu, chật hẹp.

Hạt giống ganh tỵ vốn có ở trong tâm thức của mỗi chúng ta, nó là thuộc tính của chấp ngã.

Đất nước Việt Nam với chiều dài từ Bắc vô Nam, theo dấu tích lịch sử, Phật giáo vùng Bắc bộ được ảnh hưởng từ Trung Quốc, Trung Bộ và Nam bộ được ảnh hưởng từ Ấn Độ và các nước Đông Nam Á.

Phật giáo được truyền đến Tibet chính thức là khoảng thời vua Srong-btsan sGam-po

Trước tiên Phật giáo bắt đầu từ Ấn Độ đã được truyền đến Gandhāra, và mở rộng đến Trung Quốc thông qua đường Trung Á.

Trao đổi ý kiến với một vị thượng tọa đã từng làm việc tại Viện Đại học Vạn Hạnh từ những năm ngoài 20 tuổi, tôi được lưu ý không nên bỏ qua vai trò Viện Đại học Vạn Hạnh là một think tank của tổ chức Phật giáo tại miền Nam Việt Nam lúc bấy giờ.

Tiêu chuẩn hợp lý được đặt ra cho nền khoa học hiện đại và  chủ nghĩa duy vật ảnh hưởng sâu sắc đến cuộc sống của giới trí thức. Phần lớn những nhà trí thức hiện đại đưa ra những luận cứ để chối bỏ những lý luận siêu hình và những lễ nghi Tôn giáo truyền thống.


Giáo dục là một trong những hoạt động cơ bản của xã hội con người. Từ giáo dục (education) có gốc từ tiếng Latin “educare” mà nó có nghĩa là nuôi nấng dạy dỗ, đặc biệt trong sự liên hệ với trẻ em; và thường được liên hệ với động từ “educere” mà nó có nghĩa là sinh ra.

Tựa đề này được mô phỏng từ chương thứ ba của sách Phật điển đã được Hán dịch như thế nào của tác giả Funayama Tōru. Chương thứ ba ở đấy có tên đề đầy đủ là “Việc phiên dịch đã được làm như thế này: Phương pháp cụ thể để tác thành Hán dịch và sự phân chia vai trò trách nhiệm”.

Đây là tựa đề của một quyển sách của tác giả Funayama Tōru. Sách có tựa đề đầy đủ là “Phật điển đã được Hán dịch như thế nào: Khi Sūtra trở thành kinh điển”, trong nguyên tác tiếng Nhật là 仏典はどう漢訳されたのか:スートラが経典になるとき (Making Sutra into ‘Classics’ (jingdian): How Buddhist Scriptures Were Translated into Chinese), được xuất bản bởi Iwanami Shoten, năm 2013.