“Thông minh tài trí anh hùng,
Ngu si dại dột cũng chung một gò”.

Tâm chúng ta thường có hai khía cạnh đối nghịch nhau, trong tiếng Pāli gọi là tâm dosa và tâm metta. Dosa là gì? và metta là gì?

Nhiều người nghĩ rằng đức Phật chúng ta chỉ dửng dưng trong cõi Tam-ma-địa chất ngất hương thoát tục, nói chi đến việc dâng tặng Ngài những lời nỉ non từ một trái tim đẫm lệ tình.


Từ Chánh kiến và Chánh tư duy, đức Phật thấy rõ trong mọi sự hiện hữu, không có sự hiện hữu nào là sự hiện hữu đơn thuần, mà chúng hiện hữu trong sự tương quan duyên khởi. Nghĩa là trong sự hiện hữu tương quan ấy “cái này sinh khởi, thì cái kia sinh khởi; cái này hủy diệt, thì cái kia hủy diệt”.

Tứ quả là bốn quả vị sai biệt của các bậc Thánh Thinh Văn thừa, tùy thuộc vào trình độ căn cơ của hành giả đã đạt được sau khi tu tập, đó là Tu-đà-hoàn (srota-āpanna) còn gọi là Nghịch lưu quả, Tư-đà-hàm (sakradāgamin) còn gọi là Nhất lai quả, A-na-hàm (anāgāmin) còn gọi là Bất hoàn quả, và A-la-hán (arhat), tức là A-la-hán quả.

Tứ thiền (catvāri dhyānāni) là bốn phương pháp thiền định dùng cho cả nội giáo và ngoại giáo cùng tu tập thực hành, nhằm đối trị các lậu hoặc, là nhân siêu việt mọi lưới hoặc nghiệp của dục giới, là quả sinh lên cõi sắc giới, là y địa căn bản nơi sinh ra các công đức, cũng có nghĩa là bốn loại thiền định căn bản sinh ra các thứ công đức; đó chính là Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền, Tứ thiền thuộc Sắc giới, vì nghĩa này nên có nơi còn gọi là Định sắc giới.

 “Khởi kỳ thủy thế gian chỉ có một mình Tự Ngã, trong hình dạng một con người (Purusha). Anh ta nhìn chung quanh không thấy có gì nữa ngoài bản thân mình. Thoạt tiên anh ta nghĩ: ‘Đây là Tôi’ do vậy anh ta trở nên có tên là ‘Tôi’.

Có rất nhiều bài báo, rất nhiều những khảo cứu công phu viết về con số 0 trong thế kỉ này. Quả tình, đó là con số kì diệu. Có những câu hỏi tưởng chừng ngớ ngẩn, chẳng hạn, câu hỏi “số không có phải là con số?”, nhưng đó lại là câu hỏi gây nên những trả lời dị biệt, và ở mỗi khuynh hướng tiếp cận khác nhau, câu trả lời khẳng định hoặc phủ định đều có những hợp lí riêng của nó.

Sau thời hoàng kim của Trung Quán phái với tuyên ngôn về quan điểm trung đạo bởi biện tài vô ngại của Nagarjuna (Long Thọ) khoảng nửa cuối thế kỷ thứ 2 và nửa đầu thế kỷ thứ 3, ngôn ngữ dưới lưỡi gươm trí tuệ của ngài như được chẻ làm đôi để xuyên qua nhát cắt mới toanh đó, mở ra ánh sáng cho con đường phi ngôn ngữ mà Nagarjuna thiết lập với tên gọi là tánh không. Tánh không đó là con đường Trung đạo.

Kiểm lại những tác phẩm của Thượng tọa Tuệ Sỹ mà tôi may mắn có được, ngoài những tác phẩm dịch và viết trước thời điểm 1975 đã thất lạc, tôi có được cuốn Thắng Man giảng luận dày 415 trang...(DT)

Chắp tay lạy Phật là cử chỉ quá thông thường của người Phật tử, có chi khó hiểu đâu mà cần băn khoăn suy nghĩ. Đa số chúng tôi đều tưởng thế, cho đến một buổi nghe pháp, giảng sư hỏi đại chúng:

Cách đây 50 năm, tu Thiền đối với người Phật tử nói chung và Huynh trưởng Gia Đình Phật Tử (GĐPT) nói riêng không quen thuộc như bây giờ. Quý Thầy, quý Sư cô, nghĩa là các vị Cố vấn Giáo hạnh của GĐPT chưa đem Thiền phổ biến rộng rãi cho hàng Phật tử trẻ tuổi, hẳn là có lý do riêng, ở đây xin miễn bàn. Còn nhớ hồi đó, có vài người muốn giới thiệu Thiền với các Huynh trưởng bạn mình, đã nói rằng:

Để xem bài mới đăng trên Pháp Luân, quý vị và các bạn hãy ghi Tên, Email vào các ô dưới đây rồi nhắp vào Subscribe đặt nhận. BBT sẽ sớm gửi thông báo.